Việt Nam
quốc gia ở Đông Nam Á
Việt Nam, quốc hiệu đầy đủ là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một quốc gia nằm ở cực Đông của bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, giáp với Lào, Campuchia, Trung Quốc, biển Đông và vịnh Thái Lan.
Lãnh thổ Việt Nam xuất hiện con người sinh sống từ thời đại đồ đá cũ, khởi đầu với các nhà nước Văn Lang, Âu Lạc. Âu Lạc bị nhà Triệu ở phương Bắc thôn tính vào đầu thế kỷ thứ 2 TCN sau đó là thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Chế độ quân chủ độc lập được tái lập sau chiến thắng của Ngô Quyền trước nhà Nam Hán, mở đường cho các triều đại độc lập kế tục, nhiều lần chiến thắng trước các cuộc chiến tranh xâm lược từ phương Bắc đồng thời dần mở rộng về phía nam. Thời kỳ Bắc thuộc cuối cùng kết thúc sau chiến thắng trước nhà Minh của nghĩa quân Lam Sơn.
Đến thời cận đại, Việt Nam lần lượt trải qua các giai đoạn Pháp thuộc và Nhật thuộc. Sau khi đánh bại và buộc Nhật Bản đầu hàng, khối Đồng Minh tạo điều kiện cho Pháp thu hồi Liên bang Đông Dương. Kết thúc Thế chiến II, Việt Nam chịu sự can thiệp của các nước Đồng Minh bao gồm Anh, Pháp (miền Nam), Trung Hoa Dân Quốc (miền Bắc). Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo ra đời khi Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 sau thành công của Cách mạng Tháng Tám và chiến thắng Liên hiệp Pháp cùng Quốc gia Việt Nam do Pháp hậu thuẫn trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Sự kiện này dẫn tới Hiệp định Genève (1954) được ký kết và Việt Nam bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự, lấy ranh giới là vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát phần phía bắc còn phía nam do Việt Nam Cộng hòa (nhà nước kế tục Quốc gia Việt Nam) kiểm soát và được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Xung đột về thống nhất lãnh thổ đã dẫn tới chiến tranh Việt Nam với sự can thiệp của nhiều nước và kết thúc với chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa vào năm 1975. Chủ quyền phần phía Nam được chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam (do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập) giành quyền kiểm soát. Năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam thống nhất thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau khi tái thống nhất, Việt Nam tiếp tục gặp khó khăn do sự sụp đổ và tan rã của đồng minh Liên Xô cùng Khối phía Đông, các lệnh cấm vận của Hoa Kỳ, chiến tranh Đông Dương lần ba và hậu quả của chính sách bao cấp sau nhiều năm áp dụng. Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành cải cách đổi mới, xây dựng kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng. Cải cách kinh tế cùng quy mô dân số lớn đưa Việt Nam trở thành một trong những nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, được coi là Hổ mới châu Á dù cho vẫn gặp phải những thách thức như tham nhũng và phúc lợi xã hội chưa đầy đủ. Ngoài ra, giới bất đồng chính kiến và các tổ chức theo dõi nhân quyền có quan điểm chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Việt Nam liên quan đến các vấn đề tôn giáo, kiểm duyệt truyền thông và tự do dân sự.
Tên gọi
=== Nguồn gốc tên gọi ===
Các nhà nước trong lịch sử Việt Nam có những quốc hiệu khác nhau như Xích Quỷ, Văn Lang, Đại Việt, Đại Nam hay Việt Nam. Chữ Việt Nam (越南) được cho là việc đổi ngược lại của quốc hiệu Nam Việt (南越) thời Triệu Vũ Ðế. Chữ "Việt" 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này, từng được dùng trong các quốc hiệu Đại Cồ Việt (大瞿越) và Đại Việt (大越), là các quốc hiệu từ thế kỷ 10 tới đầu thế kỷ 19. Chữ "Nam" 南 đặt ở cuối thể hiện đây là vùng đất phía nam, là vị trí cương vực, từng được dùng cho quốc hiệu Đại Nam (大南), và trước đó là một cách gọi phân biệt Đại Việt là Nam Quốc (như "Nam Quốc Sơn Hà") với Bắc Quốc là Trung Hoa.
Vua Gia Long nhà Nguyễn chính thức sử dụng quốc hiệu "Việt Nam" từ năm 1804. Sau đó Nhà Thanh công nhận Việt Nam là quốc hiệu của Nhà Nguyễn. Đặt quốc hiệu là "Việt Nam" để không nhầm với nước Nam Việt, cũng như thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Trùng hợp là trước đó mấy trăm năm, trong Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng tên "Việt Nam" làm tên chính thức, mặc dù khi đó vẫn còn sử dụng quốc hiệu "Đại Việt". Năm 1804, vua Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm sang tuyên phong Gia Long làm "Việt Nam quốc vương" 越南國王 mặc dù các vua nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong "Hoàng đế" 皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.
Tên gọi "Việt Nam" cũng xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905 và trong tên gọi Việt Nam Quốc dân Đảng. Tên gọi "An Nam" cũng có trong thời Pháp thuộc. Năm 1945, Đế quốc Việt Nam ra đời và tiếp tục đặt quốc hiệu "Việt Nam". Sau đó tất cả những nhà nước ở Việt Nam sau năm 1945 đều sử dụng quốc hiệu này.
Trong văn viết tiếng nước ngoài
Trong văn viết tiếng Anh hiện nay, cách viết thông dụng nhất cho tên gọi Việt Nam là Vietnam (viết liền không dấu cách cho từ ghép, là một kiểu Anh hoá tên gọi để phù hợp với cấu trúc từ vựng cũng như chính tả của tiếng Anh), dẫn đến thêm tiếp tố "-ese" để tạo ra tính từ là Vietnamese. Ở Việt Nam tồn tại thêm hai cách viết giữ dấu cách là "Viet Nam" (bỏ dấu) và "Việt Nam" (để đầy đủ dấu theo chữ Quốc ngữ). Điều này có thể nhận thấy trên website của Chính phủ Việt Nam và Bộ Ngoại giao Việt Nam cho phiên bản tiếng Anh trước đây có dùng cả 3 cách: "Vietnam", "Viet Nam" hoặc "Việt Nam". Từ điển tiếng Anh Oxford mới chỉ ghi nhận cách viết Vietnam cho danh từ và Vietnamese cho tính từ, chưa có ghi nhận "Viet Nam" và "Viet Namese". Danh sách liệt kê thành viên trên trang web của Liên Hợp Quốc viết tên quốc gia này là "Viet Nam" trong khi các bài viết tiểu mục thì vẫn viết là "Vietnam". Còn Bộ Ngoại giao Việt Nam và Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) thì sử dụng "Viet Nam" và quốc hiệu "the Socialist Republic of Viet Nam" như là tên gọi tiêu chuẩn trên các văn bản tiếng nước ngoài, chủ yếu trên các văn bản và văn hóa phẩm tiếng Anh được phát hành bởi Nhà nước Việt Nam. Nhìn chung, cả "Vietnam" hay "Viet Nam" đều được chấp nhận trong tiếng Anh, trong đó "Vietnam" được dùng phổ biến hơn trong các phương tiện truyền thông từ nước ngoài.
Với hầu hết ngôn ngữ khác dùng chữ Latinh như tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Ý,... chủ yếu cũng sử dụng cách viết "Vietnam", và một số ngôn ngữ có cách viết khác như "Vietnã" (tiếng Bồ Đào Nha), "Wietnam" (tiếng Ba Lan), "Vítneam" (tiếng Ireland), tuỳ vào cấu trúc bảng chữ cái Latinh của mỗi ngôn ngữ, nhưng đều viết liền không dấu cách. Các ngôn ngữ khác dùng những hệ chữ viết có họ hàng gần với chữ Latinh như chữ Cyrill hay chữ Hy Lạp cũng thường viết liền không dấu cách để chỉ Việt Nam như "Вьетнам" (tiếng Nga), "Вијетнам" (tiếng Serbia), "Βιετνάμ" (tiếng Hy Lạp).
Lịch sử
=== Thời tiền sử và sơ khai ===
Các phát hiện khảo cổ học đã chứng minh sự hiện diện của con người trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay ngay từ thời kỳ Đồ đá cũ. Những di vật bằng đá được khai quật tại Gia Lai được cho là có niên đại lên tới 780.000 năm trước, dựa trên phát hiện đi kèm về tectit; tuy nhiên giả thuyết này vấp phải nhiều tranh luận vì tectit thường xuất hiện tại các tầng văn hóa khảo cổ thuộc nhiều niên đại khác nhau ở Việt Nam. Hóa thạch Homo erectus có niên đại khoảng 500.000 năm TCN đã được tìm thấy trong các hang động tại các tỉnh Lạng Sơn và Nghệ An ở miền Bắc Việt Nam. Những di cốt hóa thạch cổ nhất của loài Homo sapiens tại Đông Nam Á lục địa có nguồn gốc từ Pleistocen giữa, bao gồm các mảnh răng hóa thạch riêng lẻ tìm thấy ở hang Thẩm Ồm và hang Hùm. Răng hóa thạch của người tinh khôn thuộc Pleistocen muộn đã được phát hiện tại Đống Can, và thuộc Thế Holocen sớm tại Mái đá Điều, Làng Gạo và Làng Cuộm. Các khu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay cũng từng tham gia vào mạng lưới Con đường ngọc bích trên biển, như những kết quả nghiên cứu khảo cổ học đã xác nhận.
Đến khoảng năm 1.000 TCN, sự phát triển của kỹ thuật canh tác lúa nước tại các vùng bãi bồi lưu vực Sông Mã và Sông Hồng đã dẫn tới sự nở rộ của nền Văn hóa Đông Sơn, nổi bật với kỹ nghệ đúc đồng thau tinh xảo để chế tác những chiếc trống đồng kỳ vĩ. Nền văn hóa này đã lan tỏa rộng khắp khu vực Đông Nam Á, bao gồm cả vùng Đông Nam Á hải đảo, trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất TCN.
Thời kỳ quân chủ
Theo truyền thuyết dân gian, thời kỳ Hồng Bàng của các vị Hùng Vương, khởi lập từ năm 2879 TCN, được xem là nhà nước đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam (thuở ban đầu gọi là Xích Quỷ và về sau là Văn Lang). Văn Lang được tạo lập bởi các bộ lạc Lạc Việt, nhiều khả năng là một liên minh đa ngôn ngữ gồm các cộng đồng nói tiếng Nam Á và tiếng Kra-Dai sinh sống tại khu vực Đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam.
Năm 257 TCN, vị Hùng Vương cuối cùng bị Thục Phán đánh bại. Ông đã hợp nhất các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt, vốn có nguồn gốc di cư từ miền nam Trung Hoa để lập nên nhà nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương.
Năm 179 TCN, viên tướng gốc Hán là Triệu Đà đánh bại An Dương Vương và sáp nhập Âu Lạc vào lãnh thổ Nam Việt. Tuy nhiên, Nam Việt sau đó cũng bị thôn tính vào bản đồ của nhà Hán vào năm 111 TCN sau cuộc chiến tranh xâm lược phương Nam. Dưới ách cai trị của nhà Hán, Nho giáo bắt đầu được truyền bá vào vùng đất này và dần định hình nên các chuẩn mực luân lý xã hội cùng phương thức trị quốc của người Việt. Suốt hơn một thiên niên kỷ tiếp theo, vùng đất nay là miền Bắc Việt Nam phần lớn chìm trong ách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Các cuộc nổi dậy giành độc lập thời kỳ đầu như cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và Bà Triệu chỉ giành được thắng lợi nhất thời, dẫu vậy đất nước cũng từng trải qua một thời kỳ độc lập tương đối dài hơn với sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân dưới triều Nhà Tiền Lý từ năm 544 đến năm 602. Đến đầu thế kỷ thứ 10, miền Bắc Việt Nam đã giành được quyền tự trị thực tế, dù chưa chính thức xưng vương, dưới sự điều hành của Họ Khúc.
Vào năm 938 SCN, vị thủ lĩnh người Việt là Ngô Quyền đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán trong trận thủy chiến sông Bạch Đằng, chính thức giành lại nền độc lập hoàn toàn cho non sông vào năm 939 sau một thiên niên kỷ Bắc thuộc. Tới thập niên 960, quốc gia phong kiến Đại Cồ Việt rồi tiếp đó là Đại Việt được thiết lập, và xã hội Việt Nam bước vào kỷ nguyên hoàng kim dưới các triều đại Lý và Trần. Dưới sự lãnh đạo của nhà Trần, quân dân Đại Việt đã ba lần đánh bại các cuộc xâm lược quy mô lớn của đế chế Mông Cổ. Cùng lúc đó, nhánh Phật giáo Đại thừa phát triển rực rỡ và trở thành quốc giáo. Sau cuộc Chiến tranh Minh – Đại Ngu (1406–1407) lật đổ Nhà Hồ, nền độc lập dân tộc bị gián đoạn trong một thời gian ngắn bởi ách đô hộ của Nhà Minh, song đã nhanh chóng được khôi phục bởi Lê Lợi, người sáng lập nên vương triều Hậu Lê. Quốc gia Đại Việt đạt tới đỉnh cao hưng thịnh dưới triều Lê sơ ở thế kỷ 15, đặc biệt là trong thời kỳ trị vì của hoàng đế Lê Thánh Tông (1460–1497). Từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18, lãnh thổ người Việt liên tục được mở rộng về phương nam thông qua tiến trình lịch sử mang tên Nam tiến, từng bước thu phục trọn vẹn vương quốc Chăm Pa và một phần lãnh thổ của Chân Lạp.
Từ thế kỷ 16 trở đi, nội chiến liên miên và những biến động chính trị phức tạp đã bao trùm phần lớn Đại Việt. Ban đầu, Nhà Mạc nhận được sự hậu thuẫn từ phương Bắc đã thách thức và tiếm đoạt quyền lực của triều Lê. Sau khi nhà Mạc bị đánh dẹp, vương triều Lê được phục hồi trên danh nghĩa. Dẫu vậy, thực quyền cai trị bị phân chia giữa các Chúa Trịnh ở phương Bắc và các Chúa Nguyễn ở phương Nam, hai bên đã lao vào cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn kéo dài hơn bốn thập kỷ trước khi đi tới thỏa thuận hưu chiến vào thập niên 1670. Đất nước bị chia cắt thành Đàng Ngoài (chúa Trịnh) và Đàng Trong (chúa Nguyễn) từ năm 1600 đến năm 1777. Trong giai đoạn này, các chúa Nguyễn tiếp tục mở rộng bờ cõi xuống vùng Đồng bằng sông Cửu Long, sáp nhập Tây Nguyên cùng phần đất Thủy Chân Lạp tại châu thổ sông Cửu Long. Cục diện phân liệt thế kỷ này chấm dứt khi ba anh em nhà Tây Sơn dấy binh lật đổ chúa Nguyễn ở phía nam rồi tiến ra bắc dẹp tan chúa Trịnh, lập nên triều đại Tây Sơn. Tuy nhiên, thời gian trị vì của họ không kéo dài và sau đó bị lực lượng trung hưng của họ Nguyễn do Nguyễn Ánh lãnh đạo đánh bại. Nguyễn Ánh thống nhất toàn bộ lãnh thổ, thiết lập triều Nguyễn và lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long.
Thời kỳ Pháp thuộc
Vào thế kỷ 16, các đoàn hải thuyền của Đế quốc Bồ Đào Nha đã tiến hành thám hiểm dọc bờ biển Việt Nam và được ghi nhận đã dựng một bia đá trên Cù lao Chàm để đánh dấu sự hiện diện. Đến năm 1533, họ bắt đầu cập bến các vùng đồng bằng ven biển Việt Nam song phải rời đi do tình hình chiến sự và loạn lạc ở bản địa. Họ cũng dành ít mối quan tâm đến vùng đất này hơn so với thị trường Trung Hoa và Nhật Bản. Sau khi đã lập thương điếm tại Ma Cao và Nagasaki để mở ra tuyến hải trình sinh lợi Ma Cao – Nhật Bản, người Bồ Đào Nha mới bắt đầu tham gia buôn bán với Hội An. Các thương nhân Bồ Đào Nha và giáo sĩ Dòng Tên dưới cơ chế bảo trợ tôn giáo Padroado đã hoạt động tích cực ở cả hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài trong thế kỷ 17. Đế quốc thực dân Hà Lan cũng tìm cách tiếp cận Đàng Trong vào năm 1601 nhưng không thể duy trì hiện diện sau nhiều cuộc xung đột vũ trang với cư dân bản xứ. Công ty Đông Ấn Hà Lan chỉ thiết lập được quan hệ thương mại chính thức với Đàng Ngoài vào mùa xuân năm 1637 sau khi rời Dejima ở Nhật Bản nhằm tìm kiếm nguồn hàng tơ lụa. Trong khi đó, nỗ lực đầu tiên của người Anh nhằm lập liên lạc với Hội An vào năm 1613 đã thất bại sau một biến cố xung đột bạo lực liên quan tới Công ty Đông Ấn Anh. Tới năm 1672, người Anh mới thiết lập được thương mại với Đàng Ngoài và được phép cư trú buôn bán tại Phố Hiến.
Từ năm 1615 đến năm 1753, giới thương nhân Pháp cũng tham gia các hoạt động buôn bán tại Việt Nam. Những nhà truyền giáo người Pháp đầu tiên đặt chân đến đây vào năm 1658 dưới hệ thống Padroado của Bồ Đào Nha. Kể từ khi thành lập, Hội Thừa sai Paris trực thuộc Thánh bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide) đã liên tục cử các thừa sai sang Việt Nam, đặt chân tới Đàng Trong vào năm 1664 và Đàng Ngoài vào năm 1666. Các giáo sĩ Dòng Đa Minh người Tây Ban Nha tham gia hoạt động truyền giáo tại Đàng Ngoài từ năm 1676, và các tu sĩ Dòng Phanxicô đã hiện diện tại Đàng Trong suốt giai đoạn 1719–1834. Triều đình phong kiến Việt Nam ngày càng quan ngại trước các hoạt động truyền đạo Kitô, và sau khi một số giáo sĩ thừa sai Công giáo bị bắt giam, Hải quân Pháp đã can thiệp quân sự vào năm 1843 để giải cứu họ. Bằng một chuỗi các chiến dịch quân sự kéo dài từ năm 1859 đến năm 1885, thực dân Pháp đã từng bước tước bỏ chủ quyền của Việt Nam. Trong trận vây hãm Đà Nẵng năm 1858, quân Pháp nhận được sự chi viện từ Tây Ban Nha (với lực lượng binh lính Tây Ban Nha và người bản địa Philippines xuất thân từ Tổng khu ủy Philippines) và có thể cả một số giáo dân Bắc Kỳ. Sau khi Hiệp ước Sài Gòn 1862 được ký kết, và nhất là sau khi Pháp cưỡng chiếm trọn vẹn sáu tỉnh Nam Kỳ vào năm 1867, tầng lớp sĩ phu phong kiến đã phát động Phong trào Văn Thân, khơi dậy làn sóng bạo lực chống lại các cộng đồng Công giáo khắp miền Trung và miền Bắc.
Trong giai đoạn 1862–1867, một phần ba lãnh thổ phía nam đất nước bị biến thành xứ thuộc địa Nam Kỳ. Đến năm 1884, toàn bộ bờ cõi Việt Nam đều rơi vào tay giặc, với miền Trung và miền Bắc bị chia cắt thành hai xứ bảo hộ riêng biệt là An Nam và Bắc Kỳ. Ba thực thể hành chính này chính thức bị sáp nhập vào Liên bang Đông Dương vào năm 1887. Trong thời kỳ này, chính quyền thực dân Pháp đã áp đặt những thay đổi chính trị và văn hóa sâu sắc lên xã hội Việt Nam. Hệ thống giáo dục hiện đại kiểu phương Tây du nhập những giá trị nhân văn mới mẻ. Đa phần kiều dân Pháp định cư tại Đông Dương tập trung đông nhất tại Nam Kỳ, đặc biệt là ở Sài Gòn, và tại Hà Nội, thủ phủ của toàn liên bang.
Vào giai đoạn đầu thời kỳ thuộc địa, nghĩa binh của phong trào cần vương yêu nước (Cần Vương) đã đứng lên chống lại ách đô hộ của Pháp và từng tàn sát khoảng một phần ba số lượng tín đồ Kitô giáo bản địa. Làn sóng bạo lực chống Công giáo tiếp tục diễn ra tại Nam Định, Quảng Trị và Bình Định suốt thập niên 1880. Để bình định đất nước, chiến lược của thực dân Pháp dựa nhiều hơn vào việc lôi kéo tầng lớp hào mục, chức sắc bản địa thay vì chỉ dựa vào các hội thừa sai Kitô giáo nhằm thiết lập quyền kiểm soát và trấn áp các lực lượng nổi dậy. Người Pháp phát triển mạnh mẽ nền kinh tế đồn điền để đẩy mạnh xuất khẩu thuốc lá, cây chàm nhuộm, chè và cà phê. Tuy nhiên, họ lại phớt lờ các yêu sách chính đáng của người bản xứ đòi quyền dân sự và quyền tự quyết. Sự bất mãn sục sôi trong dân chúng đã dẫn tới những kế hoạch phản kháng, nổi dậy đánh đuổi quân Pháp song nhìn chung thiếu đồng bộ và chuẩn bị chưa chu đáo, tiêu biểu như vụ Hà Thành đầu độc năm 1908 và cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917.
Một phong trào đấu tranh dân tộc theo khuynh hướng mới nhanh chóng hình thành, với các sĩ phu tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Đình Phùng cùng vị hoàng đế trẻ yêu nước Hàm Nghi trực tiếp đứng lên lãnh đạo hoặc kêu gọi đấu tranh giành độc lập. Đỉnh điểm là cuộc Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 do Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) phát động, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Thất bại của cuộc khởi nghĩa này đã tạo nên sự rạn nứt trong phong trào giải phóng dân tộc, khi nhiều đảng viên và quần chúng cốt cán chuyển hướng sang con đường cách mạng cộng sản.
Chính quyền thực dân Pháp duy trì quyền kiểm soát thuộc địa cho tới Chiến tranh thế giới thứ hai, thời điểm cục diện Chiến tranh Thái Bình Dương dẫn tới việc quân đội Nhật Bản tràn vào xâm lược Đông Dương năm 1940. Sau đó, Đế quốc Nhật Bản được quyền đóng quân tại Việt Nam trong khi bộ máy cai trị của chính quyền thân Pháp Vichy vẫn được giữ lại làm bù nhìn. Quân đội Nhật ra sức vơ vét tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam để phục vụ cho các chiến dịch quân sự, đỉnh điểm là cuộc đảo chính lật đổ toàn bộ quyền lực của Pháp vào tháng 3 năm 1945. Những chính sách bóc lột này đã châm ngòi cho thảm họa nạn đói năm 1944–1945, cướp đi sinh mạng của tới hai triệu đồng bào.
Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Năm 1941, Mặt trận Việt Minh, một tổ chức giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo, được thành lập dưới sự dẫn dắt của Hồ Chí Minh. Công tác giác ngộ và vận động quần chúng cách mạng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ quân đội Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương, đồng thời các đảng phái dân tộc chủ nghĩa cũng góp phần thúc đẩy ý thức quốc gia dân tộc sâu sắc hơn. Sau khi phát xít Nhật đầu hàng trong Thế chiến II, Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân giành chính quyền tại Hà Nội và Huế vào tháng 8 năm 1945, giải thể chính thể Đế quốc Việt Nam, lập nên chính phủ lâm thời và tuyên bố nền độc lập dân tộc vào ngày 2 tháng 9. Ở miền Nam, bộ máy hành chính tại Sài Gòn rơi vào cảnh tê liệt, tình trạng hỗn loạn, bạo động và xung đột bùng phát khắp nơi.
Vào tháng 8 năm 1945, các cường quốc Đồng Minh đã thống nhất tạm thời lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới giải giáp: quân đội Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch tiến vào miền Bắc nhận sự đầu hàng của quân Nhật, trong khi quân đội Anh dưới quyền chỉ huy của Tướng Louis Mountbatten tiếp nhận đầu hàng ở miền Nam. Các nước Đồng Minh vẫn ngầm thừa nhận chủ quyền của Pháp đối với Đông Dương.
Tuy nhiên, do lực lượng Pháp bị suy yếu nghiêm trọng sau thời kỳ bị Đức chiếm đóng, quân đội Anh – Ấn cùng các đơn vị tàn quân Nhật thuộc Đạo quân Phương Nam đã được sử dụng để duy trì trật tự và hậu thuẫn quân Pháp tái chiếm Nam Bộ qua cuộc chiến sự năm 1945–1946 ở phía nam vĩ tuyến 16. Lực lượng Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực bằng việc trấn áp và thanh lọc các tổ chức đối lập quốc gia cùng các nhóm Trot-kít. Năm 1946, các hiệp ước Pháp – Hoa và Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 đã tạo điều kiện cho quân đội Pháp thay thế quân Tưởng ở phía bắc vĩ tuyến 16, mở ra giai đoạn hòa hoãn tạm thời giữa chính phủ VNDCCH và Pháp; điều này vừa giúp củng cố thế đứng cho Việt Minh, vừa làm suy yếu vị thế của các phe phái quốc gia đối lập. Trong mùa hè năm đó, Việt Minh phối hợp với quân đội Pháp triệt hạ các đảng phái quốc gia đối nghịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương giữ lập trường hòa hoãn nhân nhượng nhằm tránh xung đột quân sự trực diện với Pháp, đề nghị Pháp rút các viên chức cai trị thực dân và cử các giáo sư, kỹ sư sang giúp tái thiết một nước Việt Nam độc lập và hiện đại. Tuy nhiên, Chính phủ lâm thời Pháp đã bác bỏ những yêu cầu này, bao gồm cả nền độc lập, và phái Đoàn quân Viễn chinh Viễn Đông sang nhằm tái lập ách thống trị thuộc địa. Sau khi các nỗ lực đàm phán hoàn toàn đổ vỡ, căng thẳng giữa hai bên đã bùng phát thành cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào tháng 12 năm 1946. Các nhóm chính trị dân tộc chủ nghĩa và giáo phái còn sót lại đã tập hợp quanh cựu hoàng Bảo Đại đang sống lưu vong để mở lại các cuộc đàm phán với chính phủ Pháp, cuối cùng đi tới việc ký kết Hiệp ước Élysée và thành lập Quốc gia Việt Nam nhằm đối trọng lại sự thống trị của phe cộng sản. Thất bại mang tính quyết định của quân đội Khối Liên hiệp Pháp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã tạo lợi thế ngoại giao to lớn cho chính phủ Hồ Chí Minh tại bàn đàm phán ở Hội nghị Genève ngay sau đó.
Bản Hiệp định Genève ký kết ngày 21 tháng 7 năm 1954 giữa đại diện Việt Minh và Pháp đã chấm dứt cuộc chiến tranh thuộc địa, công nhận nền độc lập của Việt Nam, đồng thời quy định chia cắt tạm thời hai miền Nam–Bắc dọc theo Khu phi quân sự men theo Vĩ tuyến 17 Bắc (để chờ cuộc tổng tuyển cử dự kiến tổ chức vào tháng 7 năm 1956). Hiệp định dành thời hạn 300 ngày tự do đi lại giữa hai miền, tạo điều kiện cho gần một triệu người miền Bắc, bao gồm ít nhất 500.000 tín đồ Công giáo và khoảng 200.000 Phật tử, di cư vào Nam do lo ngại bị chính quyền mới đàn áp. Cuộc đại di cư này nhận được sự hỗ trợ vận chuyển to lớn từ Hải quân Hoa Kỳ qua Chiến dịch Con đường đến Tự do. Sự phân chia lãnh thổ theo Hiệp định Genève vốn không mang tính vĩnh viễn, mà khẳng định Việt Nam sẽ được tái thống nhất sau kỳ tổng tuyển cử. Vào tháng 7 năm 1955, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm đã tuyên bố trên sóng phát thanh rằng miền Nam sẽ không tham gia cuộc tổng tuyển cử, với lý do chính quyền của ông không ký vào hiệp định nên không chịu sự ràng buộc của các điều khoản đó. Tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm lật đổ Bảo Đại qua cuộc trưng cầu dân ý gây nhiều tranh cãi do em trai ông là Ngô Đình Nhu dàn xếp, rồi tự xưng là Tổng thống của thể chế Việt Nam Cộng hòa.
Chiến tranh Việt Nam
Từ năm 1953 đến 1956, chính phủ miền Bắc đã tiến hành các cuộc cải cách ruộng đất bao gồm "giảm tô" và "cải cách ruộng đất", dẫn tới những biến động và tổn thất lớn về chính trị–xã hội. Ước tính có khoảng từ 13.500 đến 100.000 người đã bị xử bắn hoặc chịu các hình thức xử phạt nghiêm khắc. Tại miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đối phó với sự thâm nhập của mạng lưới cách mạng miền Bắc (bao gồm các vụ ám sát hơn 450 viên chức chính quyền miền Nam vào năm 1956) bằng cách bắt giữ và giam cầm hàng chục ngàn người bị tình nghi là cộng sản vào các "trung tâm cải huấn chính trị". Chiến dịch này đã bắt giữ cả nhiều nhân vật không thuộc phe cộng sản, song đã làm tê liệt đáng kể các mạng lưới hoạt động của lực lượng cộng sản tại miền Nam trong một thời gian. Phía chính quyền miền Bắc tuyên bố có tới 2.148 người đã bị thiệt mạng trong các chiến dịch này tính đến tháng 11 năm 1957. Lực lượng Việt Cộng thân Hà Nội bắt đầu phát động chiến tranh du kích tại miền Nam vào cuối thập niên 1950 nhằm lật đổ chế độ Diệm. Kể từ năm 1960, Liên Xô và miền Bắc đã ký kết nhiều hiệp định tăng cường viện trợ quân sự. Chính thể Việt Nam Cộng hòa ở phía nam nhận được sự bảo trợ và tham chiến từ Hoa Kỳ, Úc, Hàn Quốc và Thái Lan, trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía bắc được hậu thuẫn vũ khí và trang thiết bị bởi Liên Xô, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Khmer Đỏ và về sau là sự ủng hộ ngoại giao, nhân đạo từ Thụy Điển.
Năm 1963, sự bất bình sâu sắc của giới Phật tử trước những chính sách thiên vị Công giáo của chính quyền Diệm đã bùng phát thành các cuộc biểu tình quần chúng rầm rộ, dẫn tới các đợt đàn áp khốc liệt của cảnh sát và quân đội. Tình trạng này dẫn tới sự đổ vỡ hoàn toàn trong mối quan hệ giữa Diệm và chính phủ Hoa Kỳ, và cuối cùng châm ngòi cho cuộc đảo chính quân sự năm 1963, trong đó hai anh em Diệm và Nhu đều bị sát hại. Sau thời kỳ Ngô Đình Diệm, miền Nam trải qua hơn một chục cuộc biến loạn và chỉnh lý quân sự trước khi liên danh giữa Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ và Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền vào giữa năm 1965. Tướng Thiệu sau đó dần thâu tóm thực quyền và củng cố quyền lực của mình qua các cuộc bầu cử gây nhiều tranh cãi vào các năm 1967 và 1971. Lợi dụng cuộc khủng hoảng chính trị tại Sài Gòn, các lực lượng cộng sản nhanh chóng mở rộng vùng kiểm soát. Để cứu nguy cho chính quyền miền Nam trước phong trào nổi dậy, Hoa Kỳ đã lấy cớ Sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964 để đẩy mạnh đưa quân vào tham chiến. Đến năm 1965, các đơn vị lính thủy đánh bộ và bộ binh chiến đấu mặt đất của Mỹ ồ ạt đổ bộ vào miền Nam, và vào giai đoạn đỉnh điểm vài năm sau đó, quân số viễn chinh Mỹ đã vượt mốc 500.000 binh sĩ. Quân đội Mỹ đồng thời mở chiến dịch không kích ném bom tàn phá kéo dài trên toàn miền Bắc. Trong khi đó, Trung Quốc và Liên Xô cung cấp cho miền Bắc viện trợ vật chất khổng lồ cùng khoảng 15.000 cố vấn quân sự và kỹ thuật. Tuyến vận tải hậu cần chi viện cho chiến trường miền Nam được thực hiện qua mạng lưới đường mòn Hồ Chí Minh chạy dọc qua lãnh thổ Vương quốc Lào.
Đầu năm 1968, quân giải phóng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nhằm vào hàng loạt đô thị trọng yếu tại miền Nam. Mặc dù bị tổn thất nặng nề về quân sự, đòn tập kích bất ngờ này đã gây chấn động sâu sắc chính giới và nhân dân Mỹ, làm xoay chuyển hoàn toàn cục diện dư luận phản chiến tại Hoa Kỳ. Trong cuộc giao tranh ác liệt tại chiến trường Trị–Thiên, hơn 3.000 thường dân đã bị thiệt mạng tại Huế. Đứng trước danh sách thương vong ngày một dài, làn sóng phản chiến trong nước dâng cao cùng sự phản đối từ dư luận quốc tế, Hoa Kỳ bắt đầu thực thi Học thuyết Nixon, từng bước rút dần quân chiến đấu mặt đất vào đầu thập niên 1970. Nỗ lực này đi kèm với chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" nhằm tăng cường hỏa lực và củng cố sự tự lực cho quân lực miền Nam song không đạt được thành công bền vững. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, toàn bộ lực lượng chiến đấu của quân đội Mỹ đã hoàn tất việc rút quân về nước vào ngày 29 tháng 3 năm 1973. Tháng 12 năm 1974, quân Giải phóng mở màn tiến công và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, tạo bàn đạp phát động cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đỉnh điểm là chiến dịch giải phóng Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Miền Nam sau đó được đặt dưới sự quản lý lâm thời của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong 14 tháng dưới sự chỉ đạo của chính quyền miền Bắc.
Thống nhất và đổi mới
Vào ngày 2 tháng 7 năm 1976, hai miền Nam–Bắc chính thức hợp nhất để thành lập nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cuộc chiến tranh tàn khốc đã để lại hậu quả nặng nề cho đất nước, cướp đi sinh mạng của từ 966.000 đến 3,8 triệu người. Một báo cáo của tiểu ban Thượng viện Hoa Kỳ vào năm 1974 ước tính có gần 1,4 triệu thường dân Việt Nam bị chết hoặc bị thương trong giai đoạn từ 1965 đến 1974, trong đó có khoảng 415.000 người thiệt mạng. Sau ngày thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Lê Duẩn, chính quyền đã không tiến hành các cuộc tàn sát đẫm máu hàng loạt đối với những người từng làm việc cho chế độ Sài Gòn cũ như phương Tây từng quan ngại, tuy nhiên có tới khoảng 300.000 người đã phải tập trung vào các trại học tập cải tạo, nơi nhiều người phải chịu cảnh lao động cực nhọc, thiếu thốn lương thực và thuốc men. Nhà nước nhanh chóng triển khai chiến dịch tập thể hóa sâu rộng đối với các nông trại và xí nghiệp công nghiệp. Cuộc khủng hoảng di cư đã bùng nổ khi hàng triệu người rời bỏ đất nước ra đi trong giai đoạn hậu chiến và thời kỳ bao cấp. Năm 1978, nhằm đáp trả việc chính quyền Khmer Đỏ tại Campuchia xua quân tàn sát dã man dân thường Việt Nam tại các làng mạc biên giới thuộc các tỉnh An Giang và Kiên Giang, quân đội Việt Nam đã phát động cuộc phản công sang Campuchia, giải phóng thủ đô Phnom Penh và lật đổ chế độ diệt chủng. Chiến dịch này đã giúp thiết lập một chính phủ xã hội chủ nghĩa thân thiện mới là Cộng hòa Nhân dân Campuchia, chính thể duy trì quyền quản lý đất nước cho tới năm 1989. Tuy nhiên, sự kiện này đã đẩy quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, quốc gia vốn ủng hộ Khmer Đỏ, rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Trung Quốc sau đó đã phát động cuộc tấn công chớp nhoáng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc vào đầu năm 1979, buộc Việt Nam phải dựa chặt chẽ hơn vào viện trợ kinh tế và quân sự từ phía Liên Xô trong bối cảnh mối nghi ngại đối với chính quyền Bắc Kinh tăng vọt.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 12 năm 1986, các nhà lãnh đạo có tư tưởng đổi mới đã thay thế bộ máy lãnh đạo cũ. Đứng đầu phong trào cải cách là đồng chí Nguyễn Văn Linh (71 tuổi), người được bầu làm Tổng Bí thư mới của Đảng. Ông cùng các cộng sự đã triển khai một lộ trình cải cách kinh tế thị trường mang tính đột phá mang tên Đổi Mới, từng bước chuyển dịch nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng và quyền lực quản lý của Nhà nước vẫn được giữ vững, chính phủ đã khuyến khích mạnh mẽ quyền sở hữu tư nhân trong sản xuất nông nghiệp, xí nghiệp tư doanh, mở cửa tự do hóa thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài, song hành với việc kiểm soát các ngành kinh tế then chốt. Mặc dù công cuộc Đổi Mới đã trở thành đòn bẩy thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và tăng trưởng xuất khẩu vượt bậc, tiến trình này cũng làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo và chênh lệch phát triển xã hội.
Năm 2021, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử nhiệm kỳ thứ ba liên tiếp, khẳng định vị thế là nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua. Đồng chí từ trần vào ngày 19 tháng 7 năm 2024, và đồng chí Tô Lâm đã được bầu làm Tổng Bí thư kế nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Địa lý
Việt Nam nằm ở phía đông Đông Nam Á lục địa giữa các vĩ độ 8° và 24°B, và các kinh độ 102° và 110°Đ. Quốc gia này có tổng diện tích là 331.210 km2 (127.881 dặm vuông Anh) hoặc 331,699 km2 (128 dặm vuông Anh). Tổng chiều dài đường biên giới đất liền của quốc gia là 4.639 km (2.883 mi), và đường bờ biển dài 3.444 km (2.140 mi). Tại điểm hẹp nhất ở tỉnh Quảng Trị thuộc miền Trung, quốc gia này chỉ rộng 50 kilômét (31 mi), trong khi mở rộng tới khoảng 600 kilômét (370 mi) ở miền Bắc. Lãnh thổ Việt Nam chủ yếu là đồi núi và rừng rậm, với vùng đất bằng phẳng chiếm không quá 20%. Núi chiếm 40% diện tích đất liền của cả nước, và rừng nhiệt đới bao phủ khoảng 42%. Sông Hồng chảy qua Hà Nội ở miền Bắc Việt Nam trước khi đổ ra Vịnh Bắc Bộ. Đồng bằng sông Hồng là một vùng đồng bằng thấp, bằng phẳng, có dạng hình tam giác tương đối với diện tích 15.000 km2 (5.792 dặm vuông Anh). Đây là vùng có diện tích nhỏ nhất nhưng có dân số và mật độ dân số cao nhất trong tất cả các vùng ở Việt Nam. Nơi đây chằng chịt mạng lưới sông ngòi và kênh rạch, mang theo nhiều trầm tích đến mức vùng đồng bằng này tiến thêm 60 đến 80 mét (196,9 đến 262,5 ft) ra Biển Đông mỗi năm. Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bao phủ diện tích 417.663 km2 (161.261 dặm vuông Anh) tại Biển Đông.
Miền Nam Việt Nam được chia thành các vùng đất thấp ven biển, dãy núi Trường Sơn, và rừng. Bao gồm năm cao nguyên đất bazan, vùng Tây Nguyên chiếm 16% diện tích đất canh tác của cả nước và 22% tổng diện tích đất rừng. Đất đai ở hầu hết khu vực miền Nam Việt Nam có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp hơn do kết quả của quá trình canh tác. Phần phía bắc của đất nước chủ yếu bao gồm vùng cao và Đồng bằng sông Hồng. Fansipan, đỉnh núi nằm trên ranh giới giữa hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu, là ngọn núi cao nhất trên Bán đảo Đông Dương, với độ cao 3.143 m (10.312 ft). Từ bắc vào nam Việt Nam, quốc gia này có nhiều hòn đảo; Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất. Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam, và sông Mê Kông là con sông dài nhất cả nước. Hang Sơn Đoòng là một hang động được khảo sát lần đầu tiên vào năm 2009 bởi một đoàn thám hiểm từ Hiệp hội Nghiên cứu Hang động Anh. Hang động này dài hơn 8,8 km (5,5 mi), và một số khoang của nó đủ lớn để chứa một tòa nhà chọc trời 40 tầng. Nó có một hố sụt, sâu hơn 183 m (600 ft), bên dưới hố sụt này phát triển một khu rừng mưa nhiệt đới với những cây cao gần 30 m (98 ft). Khu rừng này là nơi sinh sống của khỉ và các loài động vật khác thường không tìm thấy trong môi trường lòng đất. Một con sông ngầm chảy bên trong hang động.
Khí hậu
Do sự khác biệt về vĩ độ và sự đa dạng về địa hình, khí hậu Việt Nam có sự thay đổi theo từng vùng miền. Trong mùa đông hoặc mùa khô, kéo dài khoảng từ tháng 11 đến tháng 4, gió mùa thổi chủ yếu từ hướng đông bắc dọc theo bờ biển Trung Quốc và băng qua Vịnh Bắc Bộ, mang theo hơi ẩm. Nhiệt độ trung bình năm nhìn chung ở vùng đồng bằng cao hơn ở vùng núi, và ở miền Nam thường cao hơn so với miền Bắc. Khu vực phía Bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng của gió mùa với bốn mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu và đông), trong đó mùa đông thường khô ráo và mùa hè dao động từ nóng đến ôn hòa. Ở các khu vực phía Nam và miền Trung, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa (mùa mưa và mùa khô). Nhiệt độ ít biến động hơn ở các vùng đồng bằng phía Nam quanh Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long, dao động trong khoảng từ 21 đến 35 °C (70 đến 95 °F) trong suốt cả năm. Tại Hà Nội và các khu vực lân cận thuộc Đồng bằng sông Hồng, nhiệt độ thấp hơn, trong khoảng từ 15 đến 33 °C (59 đến 91 °F). Sự biến đổi theo mùa ở vùng núi, cao nguyên và các khu vực cực Bắc diễn ra mạnh mẽ hơn, với nhiệt độ thay đổi từ 3 °C (37 °F) vào tháng 12 và tháng 1 đến 37 °C (99 °F) vào tháng 7 và tháng 8. Vào mùa đông, tuyết thỉnh thoảng rơi trên những đỉnh núi cao nhất ở vùng núi phía Bắc gần biên giới Trung Quốc. Việt Nam có lượng giáng thủy dưới dạng mưa với mức trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm (60 đến 80 in) trong các mùa gió mùa; điều này đôi khi gây ra lũ lụt, đặc biệt là ở một số thành phố. Quốc gia này cũng chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, bão nhiệt đới và bão lớn (typhoon). 55% dân số Việt Nam sinh sống tại các vùng ven biển có độ cao thấp.
Đa dạng sinh học
Vì nằm trong khu vực sinh thái Indomalaya, Việt Nam là một trong hai mươi lăm quốc gia được coi là sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao một cách độc đáo. Điều này đã được ghi nhận trong Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia năm 2005. Việt Nam đứng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài hệ thực vật đã được xác định trong nước, trong đó 10% là loài đặc hữu. Hệ động vật của Việt Nam bao gồm 307 loài tuyến trùng, 200 loài giun ít tơ, 145 loài ve bét, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát và 120 loài lưỡng cư. Có 840 loài chim và 310 loài động vật có vú được tìm thấy tại Việt Nam, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là đặc hữu. Việt Nam có hai Di sản Thiên nhiên Thế giới là Vịnh Hạ Long và Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, cùng với chín khu dự trữ sinh quyển, bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nghệ An, Cà Mau, và Cù Lao Chàm.
Việt Nam cũng là nơi sinh sống của 1.438 loài vi tảo nước ngọt, chiếm 9,6% tổng số loài vi tảo, cùng với 794 loài động vật không xương sống thủy sinh và 2.458 loài cá biển. Trong một số năm, có 13 chi, 222 loài và 30 tổ hợp phân loại thực vật mới đã được mô tả tại Việt Nam. Sáu loài động vật có vú mới, bao gồm sao la, mang lớn, và voọc mũi hếch cũng đã được phát hiện, cùng với một loài chim mới là loài gà lôi Edwards đang cực kỳ nguy cấp. Vào thập niên 1980, một quần thể Tê giác Java đã được tìm thấy tại Vườn quốc gia Cát Tiên. Cá thể cuối cùng của loài này tại Việt Nam được báo cáo là đã bị bắn chết vào năm 2010. Về đa dạng di truyền nông nghiệp, Việt Nam là một trong mười hai trung tâm cây trồng gốc của thế giới. Ngân hàng Gen Cây trồng Quốc gia Việt Nam đang bảo tồn 12.300 giống cây trồng của 115 loài. Chính phủ Việt Nam đã chi 49,07 triệu đô la Mỹ cho việc bảo tồn đa dạng sinh học chỉ riêng trong năm 2004 và đã thành lập 126 khu bảo tồn, bao gồm 30 vườn quốc gia.
Tại Việt Nam, nạn săn bắn trộm động vật hoang dã đã trở thành một mối lo ngại. Năm 2000, một Tổ chức phi chính phủ (NGO) mang tên Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã được thành lập nhằm thấm nhuần vào người dân tầm quan trọng của việc bảo tồn động vật hoang dã trong nước. Trong những năm tiếp theo, một tổ chức phi chính phủ khác mang tên GreenViet đã được thành lập bởi những thanh niên Việt Nam nhằm thực thi việc bảo vệ động vật hoang dã. Thông qua sự hợp tác giữa các tổ chức phi chính phủ và chính quyền địa phương, một số đường dây săn trộm địa phương đã bị triệt phá sau vụ bắt giữ những kẻ cầm đầu. Một nghiên cứu công bố năm 2018 cho thấy Việt Nam là điểm đến của hoạt động xuất khẩu lậu sừng tê giác từ Nam Phi do nhu cầu sử dụng chúng như một loại thuốc và một biểu tượng của địa vị.
Một mối quan tâm về môi trường khác ở Việt Nam là hệ lụy từ việc sử dụng chất diệt cỏ hóa học Chất độc da cam, thứ tiếp tục gây ra các dị tật bẩm sinh và các vấn đề sức khỏe cho người dân Việt Nam. Tại các khu vực miền Nam và miền Trung bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi việc sử dụng hóa chất này trong Chiến tranh Việt Nam, gần 4,8 triệu người Việt Nam đã bị phơi nhiễm và chịu đựng những hậu quả của nó. Vào năm 2012, khoảng 50 năm sau chiến tranh, Hoa Kỳ đã bắt đầu một dự án làm sạch chung trị giá 43 triệu đô la Mỹ tại các khu vực lưu trữ hóa chất cũ ở Việt Nam, được thực hiện theo từng giai đoạn. Sau khi hoàn thành giai đoạn đầu tại Đà Nẵng vào năm 2017, Hoa Kỳ đã công bố cam kết làm sạch các địa điểm khác, đặc biệt là tại khu vực Biên Hòa.
Chính phủ Việt Nam chi hơn 10 nghìn tỷ đồng mỗi năm (431,1 triệu đô la) cho các khoản trợ cấp hàng tháng và phục hồi chức năng cho các nạn nhân chất độc hóa học. Vào năm 2018, tập đoàn kỹ thuật Nhật Bản Shimizu Corporation, phối hợp với quân đội Việt Nam, đã xây dựng một nhà máy xử lý đất ô nhiễm chất độc da cam. Chi phí xây dựng nhà máy do chính công ty tự chi trả. Một trong những kế hoạch để khôi phục các hệ sinh thái bị hư hại ở miền Nam Việt Nam là thông qua các nỗ lực gây rừng. Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu thực hiện việc này ngay khi chiến tranh kết thúc. Công việc bắt đầu bằng việc trồng lại các rừng ngập mặn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và tại Cần Giờ, ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, nơi các rừng ngập mặn giúp giảm thiểu tình trạng lũ lụt trong mùa gió mùa. Quốc gia này có điểm trung bình Chỉ số tính toàn vẹn của cảnh quan rừng năm 2019 là 5,35/10, xếp hạng 104 toàn cầu trong tổng số 172 quốc gia.
Ngoài vấn đề về thuốc diệt cỏ, việc nhiễm độc asen trong nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng đã trở thành một mối lo ngại. Vật liệu chưa nổ (UXO) gây ra những nguy hiểm cho con người và động vật hoang dã—một hệ lụy khác từ các cuộc chiến tranh. Như một phần của chiến dịch liên tục nhằm rà phá và loại bỏ các vật liệu chưa nổ, một số cơ quan gỡ bom quốc tế từ Vương quốc Anh, Đan Mạch, Hàn Quốc và Hoa Kỳ đã và đang hỗ trợ tích cực. Chính phủ Việt Nam chi hơn 1 nghìn tỷ đồng (44 triệu đô la) hàng năm cho các hoạt động rà phá bom mìn và thêm hàng trăm tỷ đồng cho việc điều trị, hỗ trợ, phục hồi chức năng, đào tạo nghề và tái định cư cho các nạn nhân của vật liệu chưa nổ.
Chính trị
Việt Nam là một quốc gia đơn nhất, cộng sản tự xác định là một cộng hòa xã hội chủ nghĩa, một trong hai quốc gia cộng sản (quốc gia còn lại là Lào) tại Đông Nam Á. Mặc dù Việt Nam vẫn chính thức cam kết tuân thủ chủ nghĩa xã hội như là tôn chỉ xác định của mình, các chính sách kinh tế của quốc gia này ngày càng mang tính tư bản chủ nghĩa, với tạp chí The Economist mô tả ban lãnh đạo là những "người cộng sản nhiệt thành với tư bản". Theo Hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) khẳng định vai trò của mình trong tất cả các lĩnh vực chính trị của đất nước. Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia do bầu chọn và là tổng tư lệnh quân đội, giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh tối cao, giữ chức vụ cao thứ hai tại Việt Nam, thực hiện các chức năng hành pháp, bổ nhiệm các chức danh nhà nước và hoạch định chính sách.
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện các chức năng điều hành, kiểm soát tổ chức quốc gia của Đảng. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ, chủ trì Hội đồng Bộ trưởng bao gồm năm phó thủ tướng và người đứng đầu của 26 bộ và cơ quan ngang bộ. Chỉ các tổ chức chính trị liên kết với hoặc được Đảng Cộng sản Việt Nam tán thành mới được phép tham gia tranh cử tại Việt Nam. Các tổ chức này bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng các đảng của công nhân và người lao động.
Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhất viện gồm 500 thành viên. Đứng đầu bởi một Chủ tịch, Quốc hội nắm giữ các quyền lực thống nhất của nhà nước (có nghĩa là cơ quan này cao hơn các cơ quan hành pháp và tư pháp), với tất cả các quan chức nhà nước trung ương đều được bổ nhiệm từ các đại biểu Quốc hội. Tòa án nhân dân tối cao, đứng đầu là Chánh án, là tòa án cấp cao nhất của đất nước và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Dưới Tòa án nhân dân tối cao là các tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án địa phương. Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề về an ninh nhà nước.
Phân cấp hành chính
Sau cuộc cải cách hành chính năm 2025 và những nghị quyết được ban hành kế tiếp, Việt Nam được chia thành 25 tỉnh và 9 thành phố trực thuộc trung ương, có cấp hành chính tương đương với cấp tỉnh.
Quan hệ đối ngoại
Xuyên suốt lịch sử, mối quan hệ đối ngoại chính của Việt Nam là với các triều đại Trung Hoa. Các nguyên tắc về chủ quyền và sự kiên định về độc lập văn hóa của quốc gia được phản ánh trong các văn kiện lịch sử như bài thơ thế kỷ 11 Nam quốc sơn hà và bản cáo trạng năm 1428 Bình Ngô đại cáo. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam chính thức hòa bình, tranh chấp lãnh thổ vẫn tồn tại giữa hai nước về vấn đề Biển Đông. Hai nước duy trì các mối liên kết kinh tế và chính trị. Sau khi chia cắt Việt Nam vào năm 1954, Miền Bắc duy trì quan hệ với Khối phía Đông, trong khi Miền Nam duy trì quan hệ với Khối phía Tây. Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế, bao gồm Liên Hợp Quốc (UN), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Phong trào Không liên kết (NAM), Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (La Francophonie) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quốc gia này cũng duy trì quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ. Tính đến năm 2010, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia.
Chính sách đối ngoại của Việt Nam là nhất quán thực hiện chính sách độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Đất nước này tuyên bố là bạn và đối tác của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, không phân biệt thể chế chính trị, bằng cách tích cực tham gia vào các dự án phát triển hợp tác khu vực và quốc tế. Kể từ thập niên 1990, Việt Nam đã thực hiện các bước để khôi phục quan hệ ngoại giao với các quốc gia tư bản phương Tây. Quốc gia này vốn đã có quan hệ với các nước phương Tây cộng sản trong những thập kỷ trước đó. Quan hệ với Hoa Kỳ bắt đầu được cải thiện vào tháng 8 năm 1995 khi cả hai bang nâng cấp các văn phòng liên lạc lên cấp đại sứ quán. Vào tháng 5 năm 2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tiếp tục bình thường hóa quan hệ với Việt Nam sau khi ông tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Việt Nam đã theo đuổi mối quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, đặc biệt là trong bối cảnh địa chính trị của các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Đông. Chính sách đối ngoại của Việt Nam tập trung vào việc cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc và với Hoa Kỳ. Việt Nam vẫn duy trì các mối quan hệ quân sự và an ninh với Nga.
Quân sự
Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam và Dân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam và được chia thành:
Quân chủng Lục quân: không tổ chức Bộ tư lệnh riêng như Hải quân, Phòng không – Không quân và Cảnh sát biển mà các quân đoàn chủ lực và binh chủng do Bộ Tổng tham mưu trực tiếp chỉ đạo.
Quân chủng Hải quân: thành lập năm 1955, xây dựng trên cơ sở Cục Phòng thủ Bờ biển.
Quân chủng Phòng không – Không quân: hợp nhất từ hai quân chủng Phòng không và Không quân từ năm 2000.
Lực lượng Bộ đội Biên phòng: thành lập năm 1958
Lực lượng Cảnh sát biển: thành lập năm 1998
Lực lượng Tác chiến Không gian mạng: thành lập năm 2017
Lực lượng Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: thành lập năm 1976
VPA có số lượng khoảng 450.000 người, còn tổng lực lượng, bao gồm cả bán quân sự và dân quân tự vệ, có thể lên khoảng 5.000.000 người. Năm 2022, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 7,32 tỷ USD, tương đương khoảng 1,79% GDP năm 2022.
Kinh tế
Xuyên suốt lịch sử Việt Nam, nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp – đặc biệt là thâm canh lúa nước. Bô-xít, một nguyên liệu trong sản xuất nhôm, được khai thác ở miền Trung Việt Nam. Kể từ khi thống nhất, nền kinh tế đất nước được định hình chủ yếu bởi ĐCSVN thông qua các Kế hoạch 5 năm được quyết định tại các phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương và các kỳ đại hội toàn quốc. Việc tập thể hóa các trang trại, nhà máy và tư liệu sản xuất đã được thực hiện như một phần của việc thiết lập kế hoạch tập trung, với hàng triệu người làm việc cho các doanh nghiệp nhà nước. Dưới sự kiểm soát của nhà nước, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục bị bủa vây bởi sự kém hiệu quả, tham nhũng trong các doanh nghiệp nhà nước và tình trạng sản xuất dưới mức tiềm năng. Với sự sụt giảm viện trợ kinh tế từ đối tác thương mại chính là Liên Xô sau sự xói mòn của Khối phía Đông vào những năm 1980, và sự sụp đổ của Liên Xô sau đó, cùng những tác động của lệnh cấm vận thương mại sau chiến tranh do Hoa Kỳ áp đặt, Việt Nam bắt đầu tự do hóa thương mại bằng cách phá giá tỷ giá hối đoái để tăng cường xuất khẩu và bắt tay vào chính sách phát triển kinh tế.
Vào năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ĐCSVN đã giới thiệu các cải cách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như một phần của chương trình cải cách Đổi Mới. Sở hữu tư nhân bắt đầu được khuyến khích trong công nghiệp, thương mại và nông nghiệp, và các doanh nghiệp nhà nước đã được tái cơ cấu để hoạt động dưới các ràng buộc của thị trường. Điều này dẫn đến việc các kế hoạch kinh tế 5 năm được thay thế bằng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ kết quả của những cải cách này, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm khoảng 8% trong giai đoạn 1990–1997. Hoa Kỳ đã chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam vào năm 1994. Mặc dù Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 đã gây ra sự chậm lại của nền kinh tế xuống mức tăng trưởng 4–5% mỗi năm, nền kinh tế đã bắt đầu phục hồi vào năm 1999, và tăng trưởng khoảng 7% mỗi năm từ năm 2000 đến năm 2005. Vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới). Theo Tổng cục Thống kê (GSO), tăng trưởng vẫn duy trì mạnh mẽ bất chấp suy thoái kinh tế toàn cầu cuối thập niên 2000, giữ ở mức 6,8% vào năm 2010. Tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ của Việt Nam đạt 11,8% vào tháng 12 năm 2010, và đồng tiền nội tệ là đồng Việt Nam đã bị phá giá ba lần.
Tình trạng nghèo khổ cùng cực, được định nghĩa là tỷ lệ dân số sống với mức thu nhập dưới 1 USD mỗi ngày, đã giảm ở Việt Nam, và tỷ lệ nghèo tương đối thấp hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines. Sự sụt giảm này có thể nhờ các chính sách kinh tế công bằng nhằm cải thiện mức sống và ngăn chặn sự gia tăng của bất bình đẳng. Các chính sách này bao gồm phân phối đất đai bình quân trong các giai đoạn đầu của chương trình Đổi Mới, đầu tư vào các vùng sâu vùng xa nghèo hơn, và trợ cấp giáo dục và y tế. Kể từ những năm 2000, Việt Nam đã áp dụng tự do hóa thương mại có lộ trình, một cách tiếp cận hai luồng mở cửa một số lĩnh vực kinh tế cho thị trường quốc tế. Công nghiệp chế tạo, công nghệ thông tin và các ngành công nghiệp công nghệ cao sau đó đã hình thành một bộ phận lớn hơn và phát triển nhanh hơn của nền kinh tế quốc dân. Việt Nam là nhà sản xuất dầu lớn thứ ba ở Đông Nam Á với tổng sản lượng năm 2011 là 318.000 thùng trên ngày (50.600 m3/d). Vào năm 2010, Việt Nam được xếp hạng là nhà sản xuất dầu mỏ thô lớn thứ tám trong khu vực Châu Á và Thái Bình Dương. Hoa Kỳ mua tỷ trọng lớn nhất trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, trong khi hàng hóa từ Trung Quốc là mặt hàng nhập khẩu phổ biến nhất của Việt Nam.
Dựa trên những khảo sát của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam là 2,3%, GDP danh nghĩa đạt 406,452 tỷ USD và GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 4.086 USD. Bên cạnh nền kinh tế khu vực sơ khai, du lịch đã đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam với 7,94 triệu khách quốc tế được ghi nhận vào năm 2015.
Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.